Thời bây giờ (Präsens) : sử dụng dể miêu tả các gì đang xẩy ra, vẫn chưa kết thúc.
– Ich schreibe (gerade) einen Brief. // Vẫn đang viết, chưa chấm dứt
– rộng rãi khi sự việc đã bắt đầu trong dĩ vãng và quan trọng là vẫn chưa chấm dứt.
– Peter lernt Deutsch seit drei Monaten. // Vẫn còn đang học, chưa kết thúc
Thời hoàn chỉnh(Perfekt)
dùng để thể hiện các gì đã kết thúc(đã hoàn chỉnh). Sự việc được bộc lộ cũng mang thể đã xẩy ra rất lâu rồi (Vor einem Jahrhabe ich mir ein Haus gekauft.) hoặc vừa mới xảy ra (Ich habe vor 10 Minuten von meiner Freundin getrennt.).
Chú ý: ví như đề cập về thời điểm (thời gian) thì Perfekt xảy ra trướcPräsens. Bởi thế người ta còn gọi Perfekt làVorgegenwart (trước thời hiện tại). Bình thường ra lúc dùng Perfekt phải đi đôi vớiPräsens vì không với người nào vô duyên vô cớ lại kể « Tôi vừa ăn xong. ». Đương nhiên là trước ấy phải mang người hỏi anh ta khiến cho gì và thời khắc hỏi là Präsens (Was hast du voher gemacht?). Trong thời khắc hỏi này anh ta không ăn nữa. Ở đây diễn biến của sự việc được 2 cá nhân trình bầy, người hỏi sử dụng Präsens và người giải đáp chỉ cần sử dụng Perfekt là đủ.
Sự khác nhau giữa Perfekt và Präteritum là Perfekt diễn đạt sự việc đã kết thúcvà được tiêu dùng phổ thông trong tiếng nói nhắc hàng ngày.Präteritum thì cũng như Präsens, tiêu dùng đễ trình bày những gì còn đang xẩy ra chỉ khác là đang xẩy ra trong quá khứ. Thêm nữa Präteritum dùng nhiều trong tiếng nói viết (sách truyện…) Ich habe gerade einen Brief geschrieben. // Vừa viết xong, đã kết thúc
Thời quá khứ(Preteritum)
– tiêu dùng để diễn tả những gì còn đang xẩy ra trong dĩ vãng. Nghe thì tranh chấp, nhưng cũng đúng thôi. Trong tiếng Việt thì người ta sử dụng phụ trong khoảng tỉ dụ như:
– Ngày ấy tôi đang viết thư. // Chỉ khác Präsensở chữ „Ngày ấy“
– Cũng chính vì vậy mà Präteritum hay được dùng trong tiếng nói viết vì lúc viết truyện người ta phải đề cập lại „ngày đấy thế nọ, ngày đó thế kia…“.
– Ich schrieb einen Brief. // So mang Präsens chỉ khác ở chữ „schrieb“
Thời dĩ vãng hoàn chỉnh(Plusquamperfekt)
– tiêu dùng để bộc lộ những gì đã hoàn chỉnh trong quá khứ. Như thế có tức thị Plusquamperfekt còn đứng trướcPräteritum. Cũng vì thế mà người Đức gọi nó là Vorvergangenheit (trước thời quá khứ).
– Điều này mang tức thị phải với thời kí vãng (Präteritum) mới có thời quá khứ hoàn chỉnh (Plusquamperfekt).Nói một cách đơn thuần là khi sử dụng Plusquamperfekt phải với Präteritum đi kèm. Về lớp lang thời gian thì bao giờ Plusquamperfekt cũng đứng trước Präteritum.
– Người ta có thể hoán vị câu nhắc này:
– Bevor meine Mutter nach Hause kam, hatte ich einen Brief geschrieben.
– Thế nhưng mặc dầu về vị trí trong câu Präteritum đứng trước nhưng về lớp lang thời kì Plusquamperfektcũng vẫn xảy ra trướcPräteritum.
– Đáng nhớ:
– Plusquamperpekt cốt yếu dùng trong ngôn ngữ viết (kể lại), rất ít lúc tiêu dùng trong ngôn ngữ đề cập. Lúc dùng nó người ta thường dùng chung với Präteritum:
– Als ich nach Hause kamm,war der Gast schon gegangen.
– Cả 2 câu này đều biểu lộ về quá khứ. Nhưng việc người khách đã bỏ đi xảy ra trước khi tôi về nhà.
ngày mai I(Futur I)
Rất hay được tiêu dùng để chuẩn đoán trong cuộc sống hàng ngày. Điều này kèm theo là hợp lý vì sự việc đã xẩy ra đâu, chỉ mang đoán mò thôi.
– Chuẩn đoán: Es wird heute noch regnen. // Bữa nay trời sẽ mưa.
– hứa hẹn: Mama, ich werde jetzt immer lieb sein.
– Lên kế hoạch: Wir werden yên ổn Sommer nach Vietnam fliegen.
– Đoán mò: Sie wird ihn wohl bald heiraten.
– Và ra lệnh: Du wirst dich sofort bei ihm entschuldigen.
tương lai II (Futur II)
dùng để chuẩn đoán về những sự việc hoàn chỉnh sẽ xẩy ra lâu dài và đã xảy ra trong quá khứ(đoán mò).
– Chưa xảy ra: Er wird sie bald geheiratet haben.
– Đã xảy ra: Er wird wohl den Zug verpasst haben.
Sau lúc đã Nhận định học tiếng Đức trong 6 thì căn bản bạn có thể nắm đủ kiến thức nền móng
0 nhận xét:
Đăng nhận xét